Trò chơi học tập trong môn Khoa học lớp 4


Tổ chức trò chơi học tập trong tiết dạy môn Khoa học ở Tiểu học

Chủ nhật - 06/10/2013 08:22

Tổ chức trò chơi học tập trong tiết dạy môn Khoa học ở Tiểu học

A. PHẦN MỞ BÀI:
 
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Chương trình dạy học lớp Bốn là chương trình tương đối khó trong bậc Tiểu học, cung cấp cho học sinh những kiến thức, kĩ năng cơ bản thiết thực, có hệ thống. Ngoài những môn học như năm lớp Ba, lớp Bốn có thêm ba phân môn là Lịch sử, Địa lí và Khoa học thay thế cho phân môn Tự nhiên xã hội. So với lớp Ba, lượng kiến thức ở các phân môn Toán, Tiếng Việt ở lớp Bốn nhiều, khó và dễ nhầm lẫn, nhiều em  tỏ ra lúng túng. Đã thế các em còn phải tiếp thu một lượng kiến thức không nhỏ từ ba phân môn: Lịch sử, Địa lí và Khoa học, và đây lại là ba phân môn có kiểm tra, đánh giá cuối kì và là căn cứ để xếp loại học sinh. Đây là một áp lực lớn đối với các em. Nhất là học sinh yếu. Vậy làm thế nào để cho học sinh tiếp thu tốt chương trình dạy học này một cách nhẹ nhàng? Đây là một vấn đề trăn trở của bản thân tôi nói riêng và đồng nghiệp nói chung.
Qua một thời gian giảng dạy ở lớp Bốn, bản thân tôi nhận thấy để một tiết học đạt hiệu quả, cần phải có không khí học tập sôi nổi, tạo hứng thú cho học sinh, đặc biệt là hình thức trò chơi, nhằm giúp các em khắc sâu kiến thức, vừa tạo không khí vui tươi. Các em sẽ được vừa học vừa chơi nên tâm lí sẽ thoải mái giúp các em tiếp thu bài nhẹ nhàng, hiệu quả.
Ngoài Toán và Tiếng Việt thì Khoa học, Lịch sử, Địa lí chiếm một thời gian học bài không nhỏ với các em nên việc giúp học sinh nắm bài những môn này tại lớp là vấn đề cần thiết. Đối với phân môn Lịch sử và Địa lí thì kiến thức nhiều và chính xác nên hình thức tổ chức trò chơi hạn chế. Riêng phân môn Khoa học thì có thể tổ chức  trò chơi trong từng tiết học. Những trò chơi hay cuộc thi nhỏ mang nội dung bài học này chỉ tiến hành trong vài phút nhưng thật hấp dẫn, lôi cuốn các em và đem lại hiệu quả cao trong tiết học. Vì thế trò chơi trong các môn học nói chung và môn Khoa học nói riêng có một vai trò lớn đối với học sinh.
 
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
 
Qua tình hình thực tế của lớp, bản thân tôi đã suy nghĩ và mạnh dạn tìm ra biện pháp để khắc phục tình trạng trên nhằm tạo hứng thú học tập cho các em và nâng cao hiệu quả của tiết dạy Khoa học. Đây là một hình thức “ Học mà chơi, chơi mà học”. Kết hợp trò chơi trong bài giảng sẽ giúp giáo viên truyền đạt nội dung tốt hơn – Học sinh tích cực học tập, tự giác học tập say mê với môn học đồng thời các kiến thức được khắc sâu hơn. Từ suy nghĩ này, tôi đã áp dụng trong thực tế giảng dạy và bước đầu đã có những kết quả khả quan. Đó chính là mục đích của đề tài:


" Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong việc tổ chức trò chơi ở môn Khoa học lớp Bốn”
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
 
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
 
Trò chơi sư phạm trong dạy học được hiểu là hình thức học tập theo hứng thú vui chơi, dựa trên những tình huống thực tiễn và kinh nghiệm sống đã được tích lũy. Nhờ học tập, trẻ sẽ lĩnh hội những tri thức về thế giới xung quanh, đồng thời được phát triển về mặt nhân cách. Vì vậy học tập luôn là hoạt động chủ đạo và trò chơi là một hoạt động có tính bổ sung hỗ trợ nhưng luôn là mặt mạnh có tác dụng bổ trợ kiến thức với các em. Trò chơi vẫn là một nhu cầu không thể thiếu được trong quá trình học tập của học sinh. Nếu trò chơi được tổ chức một cách hợp lí thì sẽ có tác dụng giáo dục rất lớn.
Trò chơi học tập là một loại trò chơi có định hướng rõ ràng. Thông qua trò chơi, học sinh giải quyết nhiệm vụ học tập một cách nhẹ nhàng, thoải mái bởi vì ở đây học sinh tiếp nhận việc học tập giống như một nhiệm vụ chơi. Tức là nội dung học tập được đưa vào nội dung chơi làm cho trẻ tích cực hơn trong việc tiếp nhận nội dung học tập và việc giải quyết vấn đề trong tình huống đặt ra nhằm để học sinh lĩnh hội, củng cố, vận dụng kiến thức kĩ năng, những kinh nghiệm sống đã được tích lũy vào các tình huống mới một cách tự giác, tích cực, độc lập sáng tạo.
 
Một trò chơi sư phạm trong dạy học Khoa học ở bậc tiểu học cần có những bước sau:
* Bước 1: Xác định mục đích chơi [ Củng cố tri thức, phát triển kĩ năng, tư duy, hình thành óc sáng tạo…rèn tính thật thà, nhanh nhẹn]. Mục đích chơi đã được tôi xác định rõ ràng và sau cuộc chơi phải đạt được mục đích chơi.
* Bước 2: Giới thiệu tên trò chơi.
* Bước 3: Giới thiệu luật chơi.
* Bước 4: Qui định thời gian chơi và học sinh tiến hành chơi.
* Bước 5: Nhận xét, đánh giá kết quả chơi.
 
       Khi tiến hành tổ chức trò chơi, chúng ta cần chú ý:
- Trò chơi học tập là một phương tiện giáo dục trí tuệ, nó giúp học sinh phát triển những khả năng về thị giác, thính giác, xúc giác,…, chính xác hóa những hiểu biết về các sự vật và hiện tượng xung quanh, phát triển thông minh, sự nhanh trí, ngôn ngữ… dần dần học sinh sẽ hình thành nhu cầu nhận thức của thế giới xung quanh- mở rộng tầm hiểu biết về tự nhiên xã hội. Vì vậy ta có thể tổ chức trò chơi ở thời điểm thích hợp trong một khoảng thời gian nhất định của tiết học.
- Trong trò chơi học tập giáo viên cần chú ý đến sự tự nguyện, bình đẳng giữa các học sinh. Tất cả học sinh đều có vị trí nhiệm vụ như nhau khi tham gia trò chơi.
- Trò chơi học tập bao giờ cũng có kết quả rõ ràng, đoán đúng – sai một câu đố, gọi tên đúng –sai, sắp xếp đúng – sai… Kết quả này có ý nghĩa rất lớn đối với các em, nó mang lại niềm vui cho học sinh, thúc đẩy tính tích cực và mở rộng củng cố vốn hiểu biết cho học sinh.
- Nội dung trò chơi thường gắn với nội dung bài học, nó sẽ minh họa một cách sinh động cho các kiến thức lí thuyết mà các em đã học. Nhờ vậy, kiến thức được vận dụng, củng cố và khắc sâu giúp các em thấy rõ ý nghĩa những điều đã học, đây chính là cơ sở để hình thành hứng thú học tập.
- Để kết quả của một hoạt động chơi được tốt, ta luôn chuẩn bị những phương tiện cần thiết cho hoạt động chơi tùy thuộc vào nội dung của từng trò chơi.
- Khi chia nhóm không nên chia quá nhiều vì như thế lúc tổng kết sẽ khó khăn, trò chơi mất đi sự hào hứng.
- Trò chơi phải đơn giản, ít tốn kém, dễ thực hiện.
- Không nên lúc nào cũng cho nhóm cử đại diện vì như thế các em sẽ có khuynh hướng chọn bạn giỏi đại diện mãi mà các em yếu thì ít được tham gia.
- Giáo viên chuẩn bị một số phần thưởng nhỏ để tạo hứng thú cho các em [ tranh, ảnh, vở, bánh kẹo…]
 


II. CÁC BIỆN PHÁP:
1.Thực trạng và nguyên nhân:
1.1. Thực trạng:
 
a. Đặc điểm tình hình chung của lớp:
 
Qua nhiều năm dạy lớp Bốn, tôi thấy chương trình Khoa học lớp Bốn có nhiều mảng kiến thức nên học sinh dễ quên những kiến thức đã học khi chuyển qua học kiến thức mới. Nhất là năm nay, lớp 4/1 có nhiều học sinh học yếu hầu hết các môn nên việc học thuộc những kiến thức các môn học bài của các em gặp rất nhiều khó khăn.
 
b. Những thuận lợi:
 
- Một số em có tinh thần học tập tốt, các em thường xuyên học bài cũ và thường nắm vững các nội dung đã học.
- Lớp học hai buổi trên ngày và có nhiều nữ hơn nên lớp học dễ quản lí.
 
c. Những khó khăn hạn chế:
 
- Nhiều em ý thức học tập chưa cao.
- Chưa tự giác học bài hay chuẩn bị bài ở nhà.
- Đa số những em học yếu lại rơi vào những em nam, ham chơi và những em học yếu ở các môn. Nhất là những em kĩ năng đọc, viết còn hạn chế.
 
1.2. Nguyên nhân của những hạn chế:
 
Đa số những em học yếu môn Khoa học là do những nguyên nhân sau:
- Chưa có ý thức cao trong việc tiếp thu kiến thức mới.
- Lâu nhớ, chóng quên.
- Thiếu tự giác trong suy nghĩ và rèn luyện.
- Thiếu sự quan tâm của gia đình.
- Chưa có ý thức tự học.
- Thiếu hứng thú khi tham gia học, hay làm việc riêng, ít chú tâm đến bài học nếu không được sự nhắc nhở thường xuyên của GV.
             - Một số em có học bài nhưng khi lên trả bài lại quên hết, không trả lời được vì các em nắm bài chưa vững, học vẹt.
 


2. Một số biện pháp:
 
Để giải quyết vấn đề đặt ra, giáo viên phải thu hút sự chú ý của các em vào bài học. Môn Khoa học là môn dễ thu hút sự ham muốn học tập của các em bằng nhiều hình thức như:  thí nghiệm tìm ra kiến thức mới, vận dụng vốn hiểu biết của từng em trong khai thác kiến thức, trò chơi học tập,…Trong những hình thức đó, ngoài việc thực hiện tốt những trò chơi trong sách giáo khoa môn Khoa học có sẵn, tôi đã tập trung thiết kế một số hình thức cung cấp kiến thức mới và củng cố kiến thức dưới dạng trò chơi tương ứng dành riêng cho từng loại bài học .
 
*MỘT SỐ TRÒ CHƠI ĐÃ CÓ SẴN TRONG SÁCH GIÁO KHOA:
-“ Cuộc hành trình đến hành tinh khác” – [ Bài 1: Con người cần gì để sống? / Trang 4, 5]
- “ Thi kể tên một số vi-ta-min và chất khoáng có trong thức ăn mà bạn biết.” – [ Bài 6: Vai trò của vi-ta-min, chất khoáng và chất xơ/ trang 14, 15].
- “Đi chợ” – [ Bài 7: Tại sao cần ăn phối hợp nhiều loại thức ăn?/ Trang 16, 17].
- “ Thi kể tên một số món ăn vừa cung cấp đạm đông vật vừa cung cấp đạm thực vật” – [ Bài 8: Tại sao cần ăn phối hợp đạm động vật và đạm thực vật? / trang 18, 19].
- “ Thi kể tên một số bệnh do thiếu chất.” – [Bài 12: Phòng một số bệnh do thiếu chất dinh dưỡng. / trang 26, 27].
- “ Mẹ ơi con…sốt!” – [ Bài 15: Bạn cảm thấy thế nào khi bị bệnh? / trang 32, 33].
- “Ai chọn thức ăn hợp lí” – [ Bài 18, 19: Ôn tập: Con người và sức khỏe/ trang 38, 39].
-“ Tôi là giọt nước” – [ Bài 22: Mây được hình thành như thế nào? Mưa từ đâu ra?/ 46, 47].
- “ Thi thổi bong bong” – [ Bài 31: Không khí có những tính chất gì?/ trang 64, 65].
- “ Chơi chong chóng” – [ Bài 37: Tại sao có gió?/ trang 74, 75].
- “ Ghép chữ vào hình” – [ Bài 38: Gió nhẹ, gió mạnh, phòng chống bão/ trang 76, 77].
- “ Tiếng gì? Ở phía nào thế?” – [Bài 41: Âm thanh/ trang 82, 83].
- “ Nói chuyện qua điện thoại” – [ Bài 42: Sự lan truyền âm thanh/ trang 84, 85].
- “ Làm nhạc cụ” – [ Bài 43: Âm thanh trong cuộc sống/ trang 86, 87].
- “ Hoạt hình” – [ Bài 46: Bóng tối/ trang 92, 93].
- “ Bịt mắt bắt dê” – [ Bài 48: Ánh sáng cần cho sự sống/ trang 96, 97]
- “ Thi kể tên và nói về công dụng của các vật cách nhiệt” – [ Bài 52: vật dẫn nhiệt và vật cách nhiệt/ trang 104, 105].
- “ Thi nói về cách chống nóng và chống rét cho người hoặc động vật, thực vật” – [ Bài 54: Nhiệt cần cho sự sống/ trang 108, 109].
- “ Ai nhanh ai đúng?” – [ Các bài ôn tập cuối kì].
 
 *MỘT SỐ TRÒ CHƠI CHUẨN BỊ THÊM:
 
- Trò chơi " Ai nhanh- ai đúng"
- Trò chơi " Tiếp sức"
- Trò chơi "Sắm vai"
- Trò chơi " Tôi là ai? Tôi như thế nào ?"
- Trò chơi " Trò chơi đoán vật" 
Những hình thức trò chơi được mô tả cụ thể như sau:
 


2.1. Trò chơi: " Ai nhanh – ai đúng":
a] Mục tiêu:    Củng cố lại kiến thức đã học.
b] Hình thức thể hiện:
Trò chơi được trình bày trên bảng đen. Giáo viên chuẩn bị một số thẻ từ chứa các từ cần điền trong bài học.[ thẻ này ta có thể dùng nhiều lần].
          c] Tác dụng:
              - Tạo hứng thú trong học tập, thu hút sự chú ý của học sinh.
d] Ví dụ:
Ví dụ: Bài 2: Trao đổi chất ở người – Trang 6, 7 SGK.
Cách chơi:
- GV chuẩn bị 2 bộ thẻ từ [12 tấm thẻ bìa] như dưới. Mỗi đội sẽ nhận 6 tấm thẻ.

 
 
 
 
 

- Phân chia đội [ mỗi đội 6 học sinh] sắp thành hai hàng [ mỗi hàng một đội]


- Khi giáo viên hô hiệu lệnh: “Bắt đầu” thì từng em chọn một tấm bìa gắn vào nội dung ở bảng đen. Em thứ nhất gắn xong một thẻ xuống đứng ở cuối hàng rồi đến lượt em thứ hai, ba, luân phiên như thế cho đến hết thời gian qui định [1 phút]
Nội dung chơi:

 
 
 
 
 
 
 
 

Đánh giá:


- Nhóm nào gắn đúng và thời gian ít hơn thì đội đó thắng.
 
   Ví dụ: Bài 5: Vai trò của chất đạm và chất béo – Trang 12, 13 SGK.
-         Giáo viên giới thiệu cách chơi, luật chơi, cách đánh giá tương tự bài 2.
-         Giáo viên chuẩn bị 2 bộ phiếu gồm:


 
 
 

-  Học sinh gắn thành bảng như sau:

 
 
 

- Giáo viên kết luận: Các thức ăn chứa nhiều chất đạm có nguồn gốc vừa động vật vừa thực vật.


 


Ví dụ: Bài 21: Ba thể của nước – Trang 44, 45 SGK
-   Cách chơi giống những bài trên.
-   Bài này giáo viên chuẩn bị 2 bộ thẻ bìa gồm:

 
 
 

-   Học sinh gắn thành bảng như sau:


 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 Ví dụ: Bài 23: Sơ đồ vòng tuần hoàn của nước – Trang 48, 49 SGK


-   Cách chơi giống những bài trên.
-   Bài này giáo viên chuẩn bị 2 bộ thẻ bìa gồm:

 
 
 

- Học sinh gắn thành bảng như sau:


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 Ví dụ: Bài 62: Trao đổi chất ở thực vật – Trang 122, 123 SGK


-   Cách chơi giống những bài trên.
-   Bài này giáo viên chuẩn bị 2 bộ thẻ bìa gồm:
 

 
 
 
 

-   Học sinh gắn thành bảng như sau:

 

               HẤP THỤ                                                    THẢI RA


Ví dụ: Bài 64: Trao đổi chất ở động vật – Trang 128, 129 SGK
-         Cách chơi giống những bài trên.
-         Bài này giáo viên chuẩn bị 2 bộ thẻ bìa gồm:
 

Các chất hữu cơ trong thức ăn

 
 
 
 

-         Học sinh gắn thành bảng như sau:


 
 
 
 
               HẤP THỤ                                                    THẢI RA

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

2.2. Trò chơi: " Tiếp sức":


 
a] Tác dụng: - Vận dụng kĩ năng và kiến thức cuộc sống để hình thành kiến thức mới.
                        -  Củng cố kiến thức đã học.
 
      * Đối tượng tham gia: Đồng đội từ 3 đến 5 học sinh hoặc theo tổ.
 
         b] Hình thức thể hiện:
 
Trò chơi được thể hiện trên bảng đen hoặc bảng phụ, học sinh dùng phấn ghi.
 
c] Ví dụ:


Ví dụ: Bài 7: Tại sao cần ăn phối hợp nhiều loại thức ăn? – Trang 16, 17 SGK .
Cách chơi:
     -   Giáo viên chia thành 4 đội , mỗi tổ 1 đội, mỗi đội gồm 2 thành viên để có sự  thi đua giữa các tổ. Giáo viên giao việc cho các em là hãy đi chợ và chuẩn bị cho gia đình một bữa ăn.
-         Giáo viên chia bảng đen thành 4 phần, mỗi đội sẽ viết vào một phần.
Sau hiệu lệnh của giáo viên, một em trong đội sẽ lên tiến hành việc đi chợ bằng cách ghi tên các thức ăn mua ở chợ chưa chế biến. Sau khi em thứ nhất đi chợ xong thì chạy ngay về chỗ của đội để em thứ hai lên tiến hành việc nấu ăn bằng cách ghi tên các món ăn được chế biến từ các thức ăn bạn vừa đi chợ trong thời gian 4 phút.
Cách đánh giá:
-         Đội nào đi chợ mua được nhiều thức ăn và nấu được nhiều món ăn hợp lí, giàu chất dinh dưỡng, đảm bảo chất lượng dinh dưỡng trong ngày thì đội đó thắng. Nếu món ăn nào được nấu mà không có các nguyên liệu bạn vừa đi chợ thì không được tính. Những món ăn kết hợp không hợp lí cũng không được tính [ ví dụ: rau muống nấu canh cá, thịt bò nấu canh chua,…]
Tác dụng:
-         Tạo sự hứng thú trong học tập.
-         Học sinh biết được tên một số món ăn, thức ăn và có thể cùng mẹ đi chợ cho gia đình.
-         Học sinh biết được sự kết hợp các món ăn nào là hợp lí và đầy đủ chất dinh dưỡng trong bữa ăn.
 
Ví dụ: Bài 9: Sử dụng hợp lí các chất béo và muối. – Trang 20, 21 SGK
Cách chơi:
-         Giáo viên chuẩn bị 4 bảng phụ, học sinh chuẩn bị phấn, mỗi bàn 1 viên.
-         Giáo viên chia lớp thành 4 đội , mỗi tổ 1 đội, mỗi bàn một nhóm. Sau hiệu lệnh của giáo viên, mỗi bàn sẽ viết tên một món ăn rán [chiên] hay xào vào bảng phụ. Bàn 1 viết xong chuyển xuống bàn 2 và tiếp tục như vậy đến hết tổ. Tổ nào xong đem ngay lên đính trên bảng. Lưu ý học sinh là trong một tổ không được lặp lại các món ăn.
Cách đánh giá:
-         Đội nào viết nhanh và nhiều món chiên, xào hợp lí sẽ chiến thắng.
Tác dụng:
-         Tạo sự hứng thú trong học tập.
-         Học sinh biết được tên một số món ăn rán hay xào.
-         Học sinh biết được thức ăn nào có thể dùng để chiên hay xào, biết được nên dùng dầu thực vật để làm các món ăn đó. Biết được nên hạn chế dùng các món chiên. Biết được không nên dùng dầu đã chiên để chiên đi chiên lại nhiều lần.
 
Ví dụ: Bài 22: Mây được hình thành như thế nào? Mưa từ đâu ra? – Trang 46,47 SGK
Cách chơi:
-         Giáo viên chuẩn bị 2 bảng ghi sẵn  có ép ni-lông có nội dung:
Nước ở sông, hồ, suối, biển thường xuyên……………..bay vào không khí. ………………..bay lên cao, gặp lạnh…………………thành những hạt nước rất nhỏ tạo nên………………….Các ………………. có trong các đám mây rơi xuống đất tạo thành mưa.
Giáo viên chuẩn bị 10 phiếu [ 2 bộ] như sau:


 
 
 

     -    Có thể cho học sinh điền vào bảng đó bằng bút lông


-         Giáo viên chia lớp thành 2 đội , mỗi đội gồm 5 học sinh, xếp thành 2 hàng. Sau hiệu lệnh của giáo viên, lần lượt từng em trong đội sẽ cầm phiếu lên đính vào chỗ trống cho phù hợp, hoặc viết lần lượt vào chỗ trống.
Cách đánh giá:
-         Đội nào viết,  đính lên bảng đúng và nhanh hơn sẽ chiến thắng.
Tác dụng:
-         Tạo sự hứng thú trong học tập.
-         Học sinh biết được sự hình thành của mây và mưa.
 
3.3 .Trò chơi: “ Sắm vai”:
a]    Tác dụng:
- Củng cố các kiến thức đã học.
     * Đối tượng tham gia: - Hai học sinh hoặc nhóm học sinh.
b]    Hình thức thể hiện:
- Học sinh thảo luận các tình huống giáo viên đưa ra và thể hiện cách giải quyết tình huống đó bằng cách sắm  vai
c]  Một số ví dụ:
 
Ví dụ: Bài 12: Phòng một số bệnh do thiếu chất dinh dưỡng- Trang 26/ SGK
Mục đích: Củng cố những kiến thức đã học trong bài
Bước 1: Cách chơi
Một bạn đóng vai bác sĩ, một bạn là bệnh nhân [sau đó đổi đôi khác]
+ Bệnh nhân: Nói về triệu chứng [dấu hiệu] của bệnh
+ Bác sĩ: Nói về tên bệnh và cách phòng bệnh đó.
- Chơi theo nhóm
- Nhóm cử đôi chơi tốt nhất trình bày dưới lớp
Bước 2: Luật chơi
- Khi thể hiện vai diễn, bạn khác không được nhắc lời.
Bước 3: Đánh giá
-         Đội nào thể hiện được sự hiểu biết tốt nhất là thắng.
Tác dụng: Học sinh biết được một số bệnh do thiếu chất dinh dưỡng, nguyên nhân và cách phòng chống các bệnh đó.
 
Ví dụ: Bài 13: Phòng bệnh béo phì – Trang 28/ SGK
Mục đích: Nêu lên nguyên nhân và cách phòng bệnh do thừa chất dinh dưỡng
Bước 1: Cách chơi:
Giáo viên chia nhóm giao nhiệm vụ, mỗi nhóm thảo luận và tự đưa ra một tình huống dựa trên gợi ý của giáo viên
 

Video liên quan

Chủ Đề